Trong thời gian gần đây, tỷ lệ nhiễm Salmonella dublin trong đàn bò sữa tại Mỹ đã tăng lên một cách đáng lo ngại. Theo hệ thống giám sát sức khỏe động vật quốc gia Hoa Kỳ (National Animal Health Monitor System, NAHMS) đã ước tính 8 % số trang trại bò sữa ở Mỹ đã nhiễm S. Dublin. Trong giai đoạn từ năm 2015 đến 2019, phân lập trong các mẫu bệnh phẩm tại phòng thí nghiệm chẩn đoán của trường Đai Học Michigan (Mỹ), Samonell dublin chiếm 20,8% tổng số Salmonella spp.
Đối tượng nhiễm phổ biến là bê trước khi cai sữa và bê giai đoạn vừa cai sữa (lúc 3 tháng đến 6 tháng tuổi). Tại Việt Nam, bệnh do Salmonella Dublin cũng ghi nhận tại nhiều trang trại trong thời gian gần đây. Cùng tìm hiểu về bệnh Salmonella spp ở bê với THS.VƯƠNG NGỌC LONG cố vấn kỹ thuật công ty Đại Dương.
Thông thường, các bệnh gây ra do vi khuẩn Samonella thường có các triệu chứng trên đường tiêu hóa, tuy nhiên đối với S. dublin bê nhiễm bệnh thường biểu hiện như bệnh về đường hô hấp. Khi mổ khảo sát bê chết do nhiễm trùng huyết, những bệnh tích điển hình viêm phổi kẻ, hoại tử kèm với gan sưng to, túi mật sưng to, niêm mạc vàng và màng treo ruột có nhiều hạch bạch huyết, phát triển to.
Đặc biệt, khi phân lập vi sinh trên mẫu bệnh phẩm, đã phát hiện vi khuẩn Salmonella trong túi mật trên hầu hết các trường hợp. Các xét nghiệm nuôi cấy phân có thể được thực hiện để kiểm tra S. Dublin, nhưng một xét nghiệm kết quả âm tính cũng không xác định chắc chắn là bê không bị nhiễm Salmonella mà chỉ có xét nghiệm PCR mới có thể cho kết quả chính xác. Xét nghiệm ELISA (xét nghiệm miễn dịch liên kết enzyme) chính xác hơn đáng kể so với nuôi cấy phân để xác định bê mang mầm bệnh, và nó chính xác nhất khi được sử dụng trên bê từ 3 đến 10 tháng tuổi. Cho đến nay, chưa có một liệu trình chuẩn để điều trị Salmonella dublin và phục hồi sức khỏe bê đầy đủ.
Salmonella dublin là chủng Samonella thích nghi tốt với cơ thể vật chủ. Bê nhiễm Salmonella dublin do ăn phải vi khuẩn do bò hoặc bê bị nhiễm bệnh thải ra. Tiêu chảy là triệu chứng chung phổ biến của nhiễm khuẩn Salmonella, tuy nhiên, biểu hiện phổ biến của nhiễm trùng Salmonella dublin là các triệu chứng hô hấp ở bê từ 2 đến 12 tuần tuổi. Sau khi xâm nhiễm đường tiêu hóa, Salmonella dublin đi vào máu để tấn công vào các cơ quan như gan, túi mật, lá lách hoặc hạch bạch huyết, não, khớp, phổi… Bê sống sót sau khi nhiễm trùng có khả năng cao trở thành vật chủ mang mầm bệnh suốt đời.
1. Đặc điểm Salmonella Dublin
Salmonellae là vi khuẩn hình que, gram âm, kích thước trung bình dài 2-5 micron, rộng 0,5-1,5 micron và di động bởi tiên mao có vành lông run (peritrichous flagella). Salmonella thuộc họ Enterobacteriaceae (vi khuẩn đường ruột). Salmonella Dublin là một chủng thuộc loài phụ Salmonella enterica nên đôi khi còn được gọi là Salmonella enterica Dublin.

Vi khuẩn Salmonella
2. Đường lây truyền
Salmonella dublin là một chủng thích nghi với vật chủ. Lây truyền thường xảy ra thông qua tiêu hóa do ăn phải thức ăn có nhiễm phân của thú bệnh. Salmonella dublin có thể vượt nhau thai, xâm nhiễm thai và có thể gây sảy thai (thai sảy trước khi sinh ra nên thường ít thấy bê sơ sinh nhiễm ). Mức độ nghiêm trọng của biểu hiện lâm sàng sẽ thay đổi theo mức độ nhiễm trùng (mức độ lây nhiễm cao tạo ra các dấu hiệu lâm sàng nghiêm trọng hơn).

(hình ảnh của Lars Nørregaard, The Danish Cattle Federation)
Sau khi vào cơ thể bê, Salmonella dublin sẽ phát triển và tấn công vào các tế bào ruột, vượt qua niêm mạc ruột non và khi bị các đại thực bào tấn công, nó sẽ dựa vào đó xâm lấn các hạch bạch huyết. Tùy thuộc vào khả năng miễn dịch của động vật, hệ thống miễn dịch có thể tiêu diệt thành công vi khuẩn. Nếu không, vi khuẩn sẽ di chuyển theo máu, hệ bạch huyết đến các cơ quan khác như phổi, gan, lá lách, v.v. gây nhiễm trùng huyết.
Salmonella dublin có thể được thải không chỉ trong phân mà còn qua sữa, nước bọt, nước tiểu, tinh dịch và dịch tiết âm đạo của bò bê bị nhiễm trùng. Do đó, hạn chế sự tiếp xúc của bê , là điều tối quan trọng để giảm số lượng nhiễm trùng mới. Vệ sinh và sát khuẩn là chìa khóa để giảm nhiễm trùng mới.
3. Dấu hiệu lâm sàng
Vi khuẩn Salmonella phổ biến thường xuất hiện dưới dạng bệnh dạ dày ruột, tuy nhiên, Salmonella dublin thường biểu hiện như một bệnh về đường hô hấp nhiều hơn. Bê dưới sáu tháng tuổi có nguy cơ nhiễm trùng cao nhất. Các dấu hiệu lâm sàng được quan sát thấy ở bê bị nhiễm Salmonella dublin bao gồm:
• Sốt
• Bê buồn bả, tách khỏi đàn
• Bò ăn, giảm độ ngon miệng
• Viêm phổi và suy hô hấp (ví dụ: tăng nhịp hô hấp, ho, v.v.)
• Tiêu chảy ra máu
• Mất nước
• Nhiễm trùng huyết
Ngoài ra còn thấy một số triệu chứng như sưng khớp hoặc nhiễm trùng não cũng có thể xảy ra sau sự nhiễm trùng huyết (bê có triệu chứng thần kinh). Các dấu hiệu lâm sàng cũng có thể trở thành mãn tính và bao gồm tốc độ tăng trưởng kém, bê còi cọc, sức khỏe kém…Ở bò trưởng thành, Salmonella dublin còn là nguyên nhân gây sẩy thai. Tại Anh, Salmonella Dublin là nguyên nhân gây sẩy thai chiếm tỷ lệ cao nhất so với các nguyên nhân khác.
4. Chẩn đoán
a. Chẩn đoán trong phòng thí nghệm (phân lập vi sinh)
Do các triệu chứng của bệnh cũng tương tự với nhiều loại bệnh khác (như nhiễm trùng huyết do E. coli, Clostridium…) nên việc phân lập vi sinh, mỗ khám bệnh tích là rất quan trọng trong việc chẩn đoán bệnh do Samonella dublin.
Có hai cách tiếp cận để chẩn đoán Salmonella dublin bao gồm:
• Phân lập vi sinh phát hiện vi khuẩn thông qua nuôi cấy dựa trên các loại bệnh phẩm (phổi, gan, ruột, túi mật, lá lách, thận và tủy xương) nhưng phân là phổ biến. Tuy nhiên, việc thải vi khuẩn vào phân của bò bệnh có thể không liên tục nên khi nuôi cấy không phát hiện vi khuẩn thì cũng cần cẩn trọng vì âm tính giả.
• Phát hiện phản ứng miễn dịch của bê động vật thông qua ELISA máu hoặc sữa. Độ nhạy chẩn đoán và độ đặc hiệu của ELISA đối với kháng thể phụ thuộc vào độ tuổi của bê được test (kiểm tra). Sự hiện diện của các kháng thể có nguồn gốc từ mẹ ở bê dưới 3 tháng tuổi cũng làm kết quả sai lệch. Phản ứng chéo với các Salmonellae khác có thể xảy ra.
b. Chẩn đoán dựa trên bệnh tích mỗ khám.
Mặc dù, bệnh do Salmonella dubin gây nhiễm trùng huyết là bê chết cũng giống như nhiều nguyên nhân gây nhiễm trùng huyết khác, nhưng nó cũng có một số bệnh tích tương đối điển hình có thể phân biệt với những bệnh khác.
Khi Salmonella xâm nhập cơ thể bê, nó tấn công vào niêm mạc ruột, vượt qua lớp bảo vệ ruột. tại đây nó sẽ bị các đại thực bào bao bọc và tiêu diệt, nhưng nó không bị tiêu diệt mà còn nhờ vào đại thực bào để phát triển. Vi khuẩn sẽ theo các đại thực bào đến các hạch bạch huyết tiếp tục phát triển và từ đó xâm nhập vào máu đi đến các cơ quan nội tạng gây bệnh. Vì vậy, hạch bạch huyết sưng to là một trong những bệnh tích điển hình của Salmonella Dublin. Ngoài ra, người ta cũng nhận thấy túi mật ở bê bệnh thường sưng to và chứa nhiều vi khuẩn. Do đó mẫu bệnh phẩm túi mật cũng thường được thu thập để phân lập vi khuẩn Salmonella Dublin.

Khi Salmonella phát triển mạnh về số lượng sẽ đi vào máu và gây nên nhiễm trùng máu toàn than và gây nên viêm nhiễm ở nhiều bộ phận khác nhau đặc biệt là tại phổi (viêm phổi kẽ)

5. Kiểm soát sự lây lan Salmonella dublin
Một số biện pháp có thể được thực hiện để kiểm soát sự lây lan của Salmonella dublin trên đàn, trong việc kiểm soát dịch bệnh…Để kiểm soát bệnh do nhiễm Salmonella dublin trên một trang trại bò sữa cần nhiều biện pháp đồng bộ.

a. Từ khu vực đẻ:
Khu vực đẻ (chuồng đẻ) là một trong những khu vực quan trọng nhất cần được lưu ý trong việc kiểm soát Salmonella. Nhiễm trùng có bắt đầu sớm ngay sau đẻ tại khu chuồng đẻ. Bê sơ sinh không thể đề kháng lại sự nhiễm trùng vào thời điểm này do hệ thống miễn dịch chưa phát triển của chúng, khiến chúng rất dễ bị nhiễm trùng. Do đó, con bê với mẹ nó phải được dời đến nơi sạch sau khi đẻ trong thời gian càng sớm càng tốt (trong vòng 2 giờ sau khi sinh). Với những chuồng đẻ mật độ đông, viêm nhiễm bệnh chéo từ bò mẹ khác, bê khác là khó kiểm soát vì vậy bò mẹ cần có khu đẻ riêng biệt hoặc giảm mật độ thấp nhất có thể. Lưu ý việc thay thế chất đệm chuồng thường xuyên, vệ sinh, sát trùng và không dùng chuồng đẻ làm nơi điều trị (chuống thú y) hoặc nuôi bê sơ sinh.
b. Quy trình vệ sinh sát trùng
i. Dẹp sạch chất độn chuồng, thức ăn dư thừa, đổ hết nước trong máng (nếu có)
ii. Xịt nước làm sạch khu vực (từ khu cao xuống khu thấp)
iii. Sử dụng các loại thuốc sát trùng dạng kiềm (alkaline) phun lên tất cả các bề mặt và để tứ 15 -30 phút.
iv. Xịt nước làm sạch từ nơi cao xuống thấp.
v. Để khu vực khô ráo hoàn toàn
vi. 12 đến 24 giờ trước khi nhập bê, phun thuốc sát trùng (như Chlorine dioxide)
c. Đối với bê trước khi và chuẩn bị cai sữa
Duy trì kế hoạch dinh dưỡng đầy đủ trong giai đoạn trước khi cai sữa là rất quan trọng để hỗ trợ đầy đủ hệ thống miễn dịch của bê. Cần lưu ý việc cho bú sữa đầu theo nguyên tắc 3 Q là Nhanh sớm (Quick), chất lượng (Quanlity) và đủ số lượng (Quantity). Lưu ý đến việc sử dụng sữa tươi, sữa thải từ bò bệnh, bò xử lý kháng sinh, có thể làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn. Sữa thải này nếu muốn cho bê sử dụng phải được thanh trùng và điều này sẽ gây tốn kém thêm chi phí, công lao động và quản lý.
Luôn duy trì một môi trường sạch sẽ với mật độ chăn nuôi phù hợp, kế hoạch chăn thả, vệ sinh chuồng trại để giảm thiểu tối đa khả năng bê lành tiếp xúc với mầm bệnh nhất là từ phân (nên tránh cho bê tiếp xúc với phân bò trưởng thành). Vệ sinh, sát trùng luôn là yếu tố quan trọng để giảm thiểu nhiễm trùng mới ở bê. Lưu ý việc sát trùng vệ sinh thiết bị, dụng cụ. Hầu hết các loại chất khử trùng được sử dụng trong các trang trại bò sữa hiện nay đều có hiệu quả chống lại vi khuẩn gram âm như Salmonella.
d. Đối với bò tơ
Nguyên tắc tương tự cũng được áp dụng cho bò tơ. Hạn chế việc tiếp xúc của bò tơ với bò lớn, đặc biệt là các chất thải của nó. Nuôi ghép bò các lứa tuổi phải chú ý khâu vệ sinh, sát trùng khi nhập đàn. Hạn chế việc chăn thả chung bò tơ với bò trưởng thành hoặc sử dụng chung đồng cỏ.
e. Bò cái
Đối với bò cái, mật độ nuôi, vệ sinh chuồng trại đồng cỏ là rất quan trọng. Bò cái có thể trở thành vật mang mầm bệnh hoặc có thể nhiểm bệnh lúc đẻ (lúc này sức đề kháng bò cái yếu nhất). Do đó, luôn chú ý đến việc giữ vệ sinh khu vực đẻ, giảm stress cho bò cái là rất quan trọng. Bò cái mắc bệnh do Salmonella Dublin thường sẩy thai vào thời điểm thai lớn hơn 5 tháng.
f. An toàn sinh học
Mua bò bê, đặc biệt là từ nhiều nguồn, là một yếu tố nguy cơ đáng kể làm cho trang trại nhiễm bệnh Salmonella dublin. Do sự loaị thải mầm bệnh của bò bê mang mầm bệnh là không liên tục, nên việc xét nghiệm phân muốn chính xác phải được tiến hành nhiều lần, lập đi lập lại. Bò bê bị bệnh lâm sàng nên được cách ly khỏi đàn và cần cẩn thận không đưa chúng trở lại đàn chính quá nhanh sau khi thuyên giảm các dấu hiệu lâm sàng. Vi khuẩn cũng có thể lây lan qua dụng cụ, thiết bị, quần áo nên an toàn sinh học phải được chấp hành nghiêm ngặt. Lưu ý, Salmonella dublin có thể lây nhiễm cho loài gặm nhấm (chuột) do đó việc kiểm soát loài gặm nhấm và bảo vệ các kho thức ăn cũng cần được lưu tâm.
6. Điều trị
Bệnh liên quan đến Salmonella dublin có thể khó điều trị và tỷ lệ chết cao. Điều trị bê bị nhiễm Salmonella dublin chủ yếu là khắc phục tình trạng bê mất nước, mất cân bằng điện giải do tiêu chảy, chống viêm (viêm ruột, viêm phổi) bằng thuốc chống viêm không steroid (NSAID) và xử lý nhiễm khuẩn bằng kháng sinh. Bê bị ảnh hưởng nghiêm trọng hơn sẽ cần liệu pháp truyền dịch truyền tĩnh mạch như dextrose, dung dịch kềm.
Bê bị các nguyên nhân tiêu chảy không đặc hiệu thường được điều trị hiệu quả bằng kháng viêm không corticoid (NSAID) đặc biệt là kháng viêm Flunixin meglumine.
Lựa chọn kháng sinh thích hợp là rất khó khăn vì hầu hết các chủng Salmonella dublin đều kháng kháng sinh đa dạng (theo nghiên cứu tại Mỹ). Muốn sử dụng kháng sinh hiệu quả, trang trại phải làm kháng sinh đồ. Kết quả sơ bộ cũng cho thấy các kháng sinh điều trị bệnh hô hấp như nhóm enrofloxacin hay tulathromycine có hiệu quả. Bên cạnh đó các nhóm sulfamide mạnh (trimethoprim / sulfamethoxazole) cũng có hiệu quả nhưng lưu ý thới gian tồn lưu trong thịt sữa. khả năng
Phòng thí nghiệm chẩn đoán thú y trường Đại học Michigan đã tiến hành làm kháng sinh đồ và cho kết quả như bảng 1. Kết quả này chỉ mang tính tham khảo.
Bảng 1. Hiệu quả của một số loại kháng sinh với Salmonella Dublin
STT | Loại kháng sinh | Kết quả năm 2018 | Kết quả năm 2019 |
1 | Danofloxacin | 85% | 80% |
2 | Enrofloxacin | 65% | 83% |
3 | Trimethoprim/Sulfamethoxazole (*) | 85% | 100% |
4 | Tulathromycin | 62% | 88% |
5 | Ceftiofur | 4% | 6% |
6 | Sulfadimethoxine (*) | 4% | 0% |
7 | Florfenicol | 3% | 0% |
8 | Ampicillin | 0% | 0% |
9 | Clindamycin | 0% | 0% |
10 | Tetracycline | 05 | 0% |
11 | Neomycin | 0% | 0% |
12 | Penicillin | 0% | 0% |
(*) là một kháng sinh thường dung phối hợp vớ Sulfalmethoxazole (nhóm Sulfamide) để điều trị các bệnh hô hấp.
7. Tiêm phòng
Tiêm phòng bệnh do Salmonella cho bò và bê là một chiến lược để kiểm soát và ngăn ngừa bệnh do Salmonella trong đàn bò sữa, tuy nhiên ở Việt Nam hiện chưa có vaccine. Ngay tại Mỹ cũng có nhiều loại vaccine Salmonella được lưu hành nhưng cũng chưa có một kết quả chắc chắn dù nhiều nghiên cứu cho thấy tiêm vaccine cho bò cái mang thai (lúc cạn sữa) đã tăng khả năng miễn dịch của bê chống lại Samonella dublin. Ngoài ra, sữa đầu của bò cái được tiêm vaccine cũng có khả năng giúp bê đề kháng bệnh.
Vaccine BOVILIS BOVIVAC S (công ty MSD) có chứa các tế bào bất hoạt của Salmonella dublin (1 × 10 9 tế bào / ml) và Salmonella typhimurium (1 × 10 9 tế bào / ml).

