Sinh sản ở bò là chủ đề được quan tâm rất nhiều ở bà con chăn nuôi động vật nói chung và nuôi bò nói riêng. Một trong những vấn đề dễ gặp phải ở bò là sự nhiễm khuẩn ở bê lúc sinh. Cùng Th.S Vương Ngọc Long – cố vấn kỹ thuật công ty Đại Dương tìm hiểu về nguyên nhân và cách phòng tránh.
Bê lúc sinh ra có thể nhiễm khuẩn từ con mẹ và môi trường (nền chuồng, chất độn, dụng cụ, người đở đẻ…) Theo TS Frank Garry, trường Đại học bang Colorado, có thể chia làm 2 nhóm:
- Nhóm 1: bao gồm mầm bệnh virus, rotavirus và coronavirus và động vật nguyên sinh Cryptosporidium parvum. Garry nói rằng đây là những mầm bệnh không xâm lấn, gây tiêu chảy với sự thất thoát nước và điện giải vì vậy đáp ứng tốt với liệu pháp điều trị bù dịch và điện giải. Đối với nhóm này, điều trị bằng kháng sinh là không hiệu quả (chỉ giúp ngăn ngừa các bệnh kế phát do vi khuẩn).
- Nhóm 2: bao gồm các mầm bệnh vi khuẩn đường ruột, nó gây ra những thay đổi về mặt sinh lý, tạo nhiều bệnh lý khác nhau bao gồm phản ứng viêm đáng kể và xâm lấn niêm mạc ruột. Phổ biến nhất trong số này là Salmonella spp, nhóm Coli, Clostridium spp. Đối với nhóm nay việc sử dụng kháng sinh là cần thiết.

Vai trò của liệu pháp bù dịch đối với bệnh nhóm 1.
Trong liệu pháp bù dịch, việc truyền dịch nhằm mục đích bù nước, bù chất điện giải bị thất thoát do tiêu chảy. Lưu ý, việc truyền dịch luôn phải đi kèm với việc cho uống nước (uống cưỡng bức vì có thể bê không tự uống được).
Đối với mầm bệnh nhóm 1, liệu pháp bù dịch là chìa khóa để điều trị thành công các trường hợp tiêu chảy ở bê. Đối với việc bù dịch thông qua đường uống, dung dịch cho uống phải có thành phần các chất điện giải, đường glucose/ dextrose (cung cấp năng lượng) phù hợp để cơ thể bê có thể hấp thu các chất điện giải, nước. Ngoài ra, dung dịch còn phải có tính kiềm để trung hòa acid (do bê bệnh acidosis). Trước khi có thể xác định chính xác mầm bệnh từ những xét nghiệm ở phòng thí nghiệm, bê bị tiêu chảy phải nhanh chóng bù dịch và cầm tiêu chảy.
Lưu ý, việc sử dụng kháng sinh trong những trường hợp này, với mục đích ngăn ngừa các bệnh kế phát trừ vi khuẩn, cũng có thể làm tình trạng tiêu chảy trầm trọng vì làm mất cân bằng hệ sinh thái vi sinh vật đường ruột.
Vai trò của kháng sinh đối với bệnh do tác nhân gây bệnh nhóm 2.
Mầm bệnh nhóm 2 thường có khả năng tạo ra độc tố, xâm lấn và có thể tạo ra phản ứng viêm. Đường ruột của con bê mắc bệnh thường bị tổn thương ảnh hưởng nhiều đến sự hấp thu chất dinh dưỡng, rối loạn thẩm thấu hấp thu…Bê cũng có thể tiêu chảy nhẹ và phân bất thường phổ biến hơn như có máu, chất nhầy, thất thoát protein. Nhiều trường hợp, bê có thể bị chướng hơn do chất dinh dưỡng không hấp thu được, lên men tạo khí, táo bón. Bê nhiễm bệnh có thể chết nhanh mà không có dấu hiệu tiêu chảy trước đó. Bê bị nhiễm trùng nặng có thể có những biểu hiện viêm hệ thống như viêm phổi, viêm màng não, viêm thận và viêm khớp …Đối với bê bệnh do các mầm bệnh nhóm 2, việc điều trị bằng kháng sinh hoặc Sulfamid. Tiên lượng đối với bê bệnh do các mầm bệnh nhóm 2 là xấu, đặc biệt khi nhiễm trùng nặng và nhiễm trùng huyết.
Phòng bệnh
Trong trang trại, dịch bệnh truyền nhiễm bùng phát thường do sức đề kháng của bê kém trước sự tấn công của mầm bệnh trong môi trường chăn nuôi. Vì vậy, nguyên tắc chung là:
- Nâng cao sức đề kháng của bê thông qua giải pháp tiêm phòng, hạn chế stress, dinh dưỡng đầy đủ đặc biệt là đảm bảo bú sữa đầu đầy đủ, chất lượng từ một con bò mẹ khỏe mạnh.
- Hạn chế sự tồn tại của mầm bệnh trong môi trường chăn nuôi thông qua các giải pháp vệ sinh sát trùng ô đẻ và khu vực chung quanh, hạn chế sự tiếp xúc của bê với mầm bệnh.

