Chăm sóc rốn bê sơ sinh rất quan trọng. Cùng tìm hiểu cách chăm sóc rốn bê sơ sinh cùng THS Vương Ngọc Long – chuyên gia công ty Đại Dương.
Tổng quát phải bố trí chuồng đẻ sạch sẽ , vệ sinh , sát trùng, nếu không, nó có nguy cơ cao bị nhiễm trùng rốn, dẫn đến các bệnh khác như bệnh khớp, viêm phổi, nhiễm trùng huyết…Rốn là cửa ngõ vào gan. Vi khuẩn xâm nhập vào hệ thống tuần hoàn của bê con theo đường rốn vào gan, rồi vào máu. Rốn phải khô, mỏng và không sưng tấy, không được tiết dịch. Nên kiểm tra rốn mỗi ngày trong hai tuần để kiểm tra xem có sưng hoặc đau hay không (đây là dấu hiệu của nhiễm trùng rốn). Khi kiểm tra, sờ nắn phải nhẹ nhàng để không làm bê sợ, đau đớn.
1. Phòng ngừa nhiễm trùng rốn ở bê sơ sinh
Dây rốn được tạo thành từ các mạch máu mà sau khi đẻ, chúng vẫn giống như những ống rỗng, nơi vi khuẩn có thể xâm nhập vào cơ thể bê và đi vào máu. Khi đã vào máu, vi khuẩn có thể lưu thông khắp cơ thể bê, gây ra các bệnh như nhiễm trùng huyết (nhiễm trùng máu), viêm màng não (nhiễm trùng não) và viêm khớp (“bệnh khớp”, sưng khớp).

Các vấn đề về rốn bao gồm rốn không khô, nhiễm trùng rốn và hoặc thoát vị rốn (hernia). Rốn không khô thường bị nhiễm trùng. Nhiễm trùng làm dây rốn to lên, sưng lên và cản trở việc đóng kín thành bụng của con bê. Nếu lỗ mở đủ lớn, ruột của con bê có thể thoát vị (qua lỗ mở), gây nên thoát vị rốn. Thoát vị có thể làm hỏng ruột, xoắn ruột, nghẽn ruột… Các thao tác, chăm sóc lúc đẻ phù hợp, đúng kỹ thuật là chìa khóa để tránh các vấn đề về rốn. 2 yếu tố là giữ cho khu vực đẻ khô ráo và nhúng rốn của con bê vào chất khử trùng ngay sau khi sinh giải quyết các vấn đề liên quan đến rốn.
• Một khu vực đẻ sạch sẽ làm giảm sự tiếp xúc của khu vực rốn với vi khuẩn trong phân, nước tiểu và bụi bẩn.
• Nhúng rốn ngay sau khi sinh làm khô nó, giúp các mạch máu lớn đóng lại và tiêu diệt bất kỳ vi khuẩn nào đã có mặt. Lặp đi lặp lại việc nhúng dây rốn trong vài ngày đầu đời là thao tác bắt buộc.
Đảm bảo người hộ lý bò đẻ và xử lý bê đều biết rõ những quy trình kỹ thuật đặc biệt là việc kiểm tra rốn để phát hiện những bất thường sớm nhất. Trong thời gian tối đa 7 ngày, rốn phải khô và nếu chuyển đi nơi khác, chuồng khác phải đảm bảo rốn phải khô.
Để hạn chế tình trạng nhiễm trùng rốn ở bê cần chú ý các vấn đề sau:
a. Môi trường
• Khu vực đẻ phải sạch sẽ để giảm thiểu nguy cơ nhiễm trùng. Một khi một con bê có thể thở dễ dàng, nên được di chuyển đến một khu vực khác cùng với mẹ và bắt đầu cho bú.
• Cho tất cả bê sơ sinh bú/uống đủ lượng sữa đầu chất lượng tốt trong vòng hai giờ sau khi sinh. Mỗi con bê cần được cung cấp lượng sữa đầu tương đương khoảng 15% trọng lượng cơ thể của nó trong ngày đầu tiên (có thể chia làm 2 cử bú ). Điều này cung cấp cho bê khả năng miễn dịch nhanh chóng, bảo vệ họ chống lại nhiễm trùng do vi khuẩn (có thể bắt đầu từ rốn bị nhiễm khuẩn).
• Tiếp tục cho uống sữa đầu và sữa giai đoạn tiếp theo trong ba ngày đầu đời vì sữa này có hàm lượng chất béo, protein cũng như các chất dinh dưỡng khác cao hơn. Luôn giữ bê sạch sẽ, khô ráo. Điều này đặc biệt quan trọng đối với bê dây rốn không lộ bên ngoài.
b. Nhúng rốn
• Ngay khi bê đã hồi tỉnh, thở được, sau khi bò mẹ liếm sạch thì động tác đầu tiên của bên là ngóc đầu lên (người ta còn dùng thời gian từ lúc bê được sinh ra đến lúc bê ngóc đầu lên làm chỉ số đánh giá sức sống của bê). Lúc này là thời điểm tốt nhất để xử lý rốn. Nếu sớm quá thì khi bò mẹ liếm, liếm nhầm iod sẽ làm bò mẹ có thể “từ chối” bê (mùi iod). Nếu nhúng trễ thì sẽ không bảo vệ rốn khỏi sự xâm nhập của các vi sinh vật gây bệnh.
• Loại bỏ mảnh vụn, rơm vật bẩn trên dây rốn, nhúng rốn vào cốc đựng dung dịch iod 7%. Sử dụng iod không những giúp sát trùng rốn mà còn giúp làm khô nhanh rốn. Trong trường hợp dây rốn quá dài thì có thể dùng 2 tay rửa sạch để “bứt” phần dài dư (chừa khoảng 7,5cm). Trường hợp ngoài dây rốn, bê sơ sinh còn kèm theo 1 ống mạch trắng thì dùng kéo cắt (trường hợp này hiếm gặp). Kiểm tra lại trong 48 giờ để đảm bảo dây rốn đang khô và không có nhiễm trùng rốn hoặc thoát vị. Nhúng lại rốn nếu cần thiết.

• Cồn iod (ít nhất 7%) được sử dụng để nhúng. Chất cồn trong dung dịch sẽ giúp làm khô dây rốn. Không sử dụng dung dịch iod nhúng núm vú vì chúng sẽ không cung cấp đủ mức độ bảo vệ mà ngoài ra chúng còn chứa các chất giữ ẩm hay làm mềm núm vú nên dung nhúng rốn sẽ không làm khô rốn.
• Khi “nhúng”, ngâm toàn bộ chiều dài của dây rốn trong dung dịch, (sát tận thành bụng). Tốt nhất nên ly bằng giấy dùng một lần cho mỗi bê hoặc loại cốc nhúng núm vú (không cho dung dịch sau khi sử dụng trở lại cốc nhúng để tránh lây truyền bệnh giữa các bê).
• Vệ sinh cốc nhúng sau khi sử dụng. Lưu trữ cốc trong một khu vực sạch sẽ gần chuồng đẻ (chỉ dung riêng trong khu vực bò đẻ không dùng cho mục đích khác) và phải bao phủ cốc giữa các lần sử dụng.
• Thay đổi dung dịch nhúng sau năm con bê hoặc hai ngày, tùy theo điều kiện nào đến trước. Không khuyến cáo sử dụng thuốc xịt vì nó sẽ không bao phủ toàn bộ khu vực dây rốn (do lông cản) và không thấm sâu vào các mao mạch dây rốn.
c. Kiểm tra rốn
• Kiểm tra vùng rốn ít nhất một lần mỗi ngày trong tuần đầu tiên cho đến khi dây rốn lành và khô. Sờ nắn rốn để kiểm tra rốn có sưng hoặc đau (biểu hiện nhiễm trùng. Rốn được coi là khô khi chiều dài từ đầu rốn đến thành bụng khô hoàn toàn và teo.
• Đảm bảo trang trại có quy trình kiểm tra, xử lý hoàn chỉnh và được đào tạo cho nhân viên.
2. Thoát vị rốn và nhiễm trùng rốn
Nhiễm trùng rốn không được chú ý và không được điều trị được cho là nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ tử vong và bệnh tật cao ở các trang trại nuôi bê.
a. Cách xác định mức độ nghiêm trọng của thoát vị rốn
Thoát vị rốn là dị tật bẩm sinh phổ biến nhất ở bê. Chúng xảy ra khi vòng rốn không đóng lại sau khi sinh, cho phép các chất trong bụng nhô ra qua lỗ hở. Thoát vị rốn có mức độ nghiêm trọng khác nhau, từ loại sẽ tự lành đến loại cần phẫu thuật sửa chữa. Nhưng làm thế nào để bạn xác định được nó có nặng và cần phải phẫu thuật hay không? Một số yếu tố cần được xem xét khi đánh giá thoát vị rốn bao gồm:
• Kích thước của lỗ thoát vị
• Có nhiễm trùng hay không
• Nếu thoát vị có thể giảm sưng, nhỏ đi (tức là các phần nội tạng như ruột có thể thu hồi dễ dàng trở lại vị trí bình thường).

Thoát vị rốn ở bê
Kích thước của thoát vị rốn có thể khác nhau rất nhiều, dựa trên kích thước của việc mở vòng rốn và số lượng ruột đã nhô ra thông qua lỗ này.
• Nếu thoát vị có đường kính nhỏ hơn 3 cm, và / hoặc nếu ruột của chỗ thoát vị dễ dàng giảm dần, có khả năng thoát vị không nghiêm trọng và sẽ lành tự phát.
• Thoát vị nhỏ hơn bốn đến năm cm (hoặc rộng ít hơn ba ngón tay) có thể được giải quyết bằng cách quấn một miếng băng đàn hồi trên bụng để giữ ruột, nội tạng sau khi đặt chúng trở lại vị trí trong xoang bụng.
• Tuy nhiên, túi thoát vị càng lớn, càng có nhiều khả năng vòng thoát vị rốn lớn thì tỷ lệ cần phải phẫu thuật lớn hơn và cần thiết. Theo nguyên tắc thông thường, nếu lỗ thoát vị mở hơn 6 cm, không thể đẩy lòng và nội tạng vào xoang bụng thì tình trạng thoát vị là nghiêm trọng và cần sự can thiệp của bác sĩ thú y.
Khi đánh giá kích thước, mức độ nghiêm trọng của thoát vị, điều quan trọng là phải kiểm tra nhiễm trùng. Một số dấu hiệu của thoát vị bị nhiễm trùng bao gồm sốt, chán ăn và tốc độ tăng trưởng kém. Trong một số trường hợp, các dấu hiệu nhiễm trùng cũng có thể bao gồm đi tiểu thường xuyên và nước tiểu qua rốn. Nếu có bất kỳ triệu chứng nào trong số này, nên gọi bác sĩ thú y để xác định các bước tiếp theo.

Xử lý thoát vị rốn ở bê
Nếu thoát vị rốn phát triển thành thoát vị xoắn ruột (khi ruột, là một phần của nội tạng chứa trong túi thoát vị bị xoắn bên ngoài cơ thể), bê sẽ có các triệu chứng như chổ thoát vị nóng,sưng, cứng, đau đớn và bê có các dấu hiệu đau bụng (nghiến răng, cong lưng, bồn chồn, trầm cảm, v.v.). Loại thoát vị rốn này đòi hỏi phải được phẫu thuật ngay.
b. Nhiễm trùng huyết: kẻ giết người thầm lặng
Nhiễm trùng huyết xảy ra khi vi khuẩn xâm nhập vào máu và lưu thông khắp cơ thể. Chúng có thể gây tổn thương các cơ quan nội tạng, dẫn đến cái chết của con bê do suy đa tạng (suy nhiều cơ quan). Ở bê, thông thường, vi khuẩn xâm nhập vào máu do các bệnh nhiễm trùng như nhiễm trùng rốn, viêm phổi hoặc tiêu chảy.
Nhiễm trùng rốn làm vi khuẩn di chuyển trực tiếp vào máu qua tĩnh mạch rốn ngay sau khi bê con được sinh ra. Amidan cũng có thể là một nguồn vi khuẩn khác xâm nhập vào máu. Mặc dù amidan thường giúp lọc vi khuẩn hoặc vi rút ăn vào hoặc hít phải, nhưng nếu hệ thống phòng thủ của chúng bị áp đảo bởi một số lượng lớn vi khuẩn trong thời gian ngắn, vi khuẩn có thể lây lan vào máu và khắp cơ thể. Một số loại vi khuẩn xâm nhập nhiều hơn và lấn át khả năng phòng thủ của bê con. Trường hợp này thường xảy ra với Salmonella Dublin và một số dạng E. coli đã từng tồn tại.
Một trong những thách thức với bệnh nhiễm trùng huyết là nó có thể xảy ra đột ngột. Bê có thể không có nhiều dấu hiệu bệnh tật trong thời gian rất dài. Một số bê bị nhiễm trùng huyết sẽ có biểu hiện đờ đẫn, yếu ớt, phản xạ bú kém, không dám đứng và có thể bị sốt. Tuy nhiên, sốt không phải là dấu hiệu nhận biết bệnh nhiễm trùng huyết vì các bệnh nhiễm trùng nhỏ khác cũng có thể gây sốt. Bê có thể không có dấu hiệu mất nước trừ khi bị tiêu chảy. Đôi khi, những con bê còn rất nhỏ cũng sẽ bị viêm màng não – nhiễm trùng màng não – kèm theo co giật và các dấu hiệu thần kinh khác xảy ra nếu vi khuẩn di chuyển theo đường máu đến não. Tuy nhiên, thường xuyên hơn, các dấu hiệu nhiễm trùng huyết rất tinh vi và thời gian ngắn, và thường không được người chăn nuôi phát hiện. Nhiều nhà chăn nuôi đã báo cáo rằng một con bê vẫn ổn trong 24 giờ trước khi được phát hiện là đã chết. Không có phương pháp điều trị nhiễm trùng huyết. Vào thời điểm nhận ra nó thường là quá muộn vì nhiễm trùng đã lây lan quá rộng để kháng sinh có hiệu quả.
Nhiễm trùng huyết xảy ra ở bê được sinh ra không có hệ thống miễn dịch hoạt động, và sữa đầu không được cung cấp đủ khả năng bảo vệ miễn dịch. Điều này có thể xảy ra vì nhiều lý do khác nhau, chẳng hạn như không được bú đủ sữa đầu sớm, lượng kháng thể trong sữa đầu rất thấp, đường ruột không thể hấp thụ kháng thể hoặc số lượng vi khuẩn trong sữa đầu quá cao, có thể cản trở sự hấp thụ kháng thể. Bê ăn và hấp thụ đủ kháng thể từ sữa đầu có nguy cơ nhiễm trùng huyết thấp hơn. Sự xuất hiện của nhiễm trùng huyết ở bê con cần phải kiểm tra chặt chẽ các trường hợp xung quanh việc sinh đẻ của bò mẹ và đánh giá tổng thể quy trình nuôi dưỡng bằng sữa đầu. Đảm bảo bê con nhận được bốn lít sữa đầu trong vòng sáu giờ sau khi sinh, được sinh ra trong chuồng đẻ rất sạch sẽ, đủ chất độn khô ráo.
Việc chẩn đoán bệnh nhiễm trùng huyết có thể khó do gia súc chết đột ngột. Chỉ có khám nghiệm tử thi sau khi khám nghiệm mô bằng kính hiển vi mới có thể cho thấy nhiễm trùng huyết đã xảy ra. Tại Mỹ, tỷ lệ bê chết do nhiễm trùng huyết cao hàng thứ 3 sau tiêu chảy, viêm phổi.

3. An toàn sinh học
An toàn sinh học là bảo vệ gia súc, gia cầm và cây trồng khỏi bất kỳ loại tác nhân lây nhiễm nào, dù là virus, vi khuẩn, nấm hay ký sinh trùng. Nó bao gồm các giaỉ pháp ngăn chặn các tác nhân này để ngăn chúng xâm nhập, lây lan và phát triển trong các hoạt động chăn nuôi của trang trại.
Người, động vật, phương tiện và thiết bị có thể là nguồn mầm bệnh và thông qua sự di chuyển của chúng có thể truyền bệnh vào, trong và ngoài trang trại. Các trang trại riêng lẻ ít bị cô lập hơn trước đây và đầu vào được nhập vào các trang trại từ xa hơn, có thể từ các quốc gia khác. Ngoài ra, hoạt động du lịch trên toàn cầu nhiều hơn và thường xuyên hơn đến và đi từ các quốc gia nơi các dịch bệnh lưu hành cũng là nguyên nhân làm cho dịch bệnh phát triển hơn. Hầu hết các bệnh lây truyền cơ học (do người, động vật, thiết bị, dụng cụ…), lây truyền sinh học (do nhập bê tù nơi khác, do truyền lây giữa các vật chủ trung gian và bê…) nhưng một số bệnh lại lây truyền qua các phương tiện khác như qua luồng không khí.
Danh sách các kiểm tra khi vận chuyển và cách ly.
Để giảm nguy cơ lây truyền bệnh trong trang trại, cần thực hiện các kiểm tra sau :
• Làm sạch và khử trùng xe tải vận chuyển và xe kéo ở giữa các lần vận chuyển
• Không vận chuyển bê có sức khỏe không phù hợp
• Khi nhận được bê mới, hãy sắp xếp phân nhóm chúng theo kích thước và trọng lượng để giảm stress giữa bê lớn và bê nhỏ, và giúp chúng dễ dàng thích nghi với môi trường mới.
• Cách ly, điều trị và tiêm phòng cho tất cả các bê chưa rõ tình trạng sức khỏe khi chúng đến.
• Quan sát những con bê mới và phản ứng của chúng đối với trang trại, không gian sống mới và cách ly chúng tránh xa đàn bê hiện tại của bạn khi chúng lần đầu tiên đến.
• Giữ bê trong môi trường khô ráo, thoải mái và vệ sinh để tránh sự phát triển của tiêu chảy và cho chúng thời gian để thích nghi với môi trường xung quanh mới.
• Hạn chế tiếp xúc mũi-mũi giữa hai con bê để tránh lây lan bệnh.

• Cách ly bê bị bệnh và tránh cho chúng tiếp xúc trực tiếp giữa bê bệnh, giữa bê bệnh và bê lành .
• Đảm bảo bê khỏe mạnh và bê bệnh không ăn hoặc uống từ cùng một máng thức ăn hoặc máng nước.
• Thực hiện tăng cường an toàn sinh học giữa chuồng nuôi bê bệnh và/hoặc khu vực cách ly và phần còn lại của đàn bê.
• Xem xét rủi ro ô nhiễm khi di chuyển động vật khỏe mạnh và bị bệnh qua các con đường chung trong chuồng.
• Di chuyển động vật khỏe mạnh trước để tránh lây truyền bệnh.
• Vệ sinh dụng cụ , thiết bị thú y sau mỗi lần sử dụng và màng bao phủ lại (loại màng nilon bọc thức ăn) .
• Đào tạo cho nhân viên của bạn về các quy trình vệ sinh an toàn sinh học.
